Trang

Thứ Ba, 3 tháng 7, 2018

Thoát nghèo nhờ phát triển chăn nuôi đại gia súc


Mô hình chăn nuôi trâu, bò cho thu nhập cao của một hộ dân ở thôn Nà Coóc, xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm (Bắc Cạn).
Thành lập từ năm 2003, huyện Pác Nặm (Bắc Cạn) có xuất phát điểm là một trong những huyện nghèo nhất cả nước (huyện 30a). Ðến nay sau 15 năm, Pác Nặm trở thành huyện trọng điểm của tỉnh về chăn nuôi đại gia súc, với các chợ mua bán trâu, bò quy mô lớn ở các tỉnh miền núi phía bắc, giúp đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo bền vững.
Thoát nghèo nhờ chăn nuôi
Phó Bí thư Huyện ủy Pác Nặm Nguyễn Ðình Ðiệp chia sẻ: Nhận thấy địa phương có nhiều đồi núi cao, ít ruộng nước, người dân có kinh nghiệm nuôi đại gia súc, huyện quyết định chọn chăn nuôi là hướng đi chủ đạo trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Những nguồn lực từ Chương trình 30a, 135, xây dựng nông thôn mới… được chú trọng hỗ trợ người dân theo hướng này.
Xã Công Bằng lựa chọn hai thôn khó khăn là Nặm Sai, Cốc Nọt để sử dụng nguồn kinh phí Chương trình 30a hỗ trợ người dân chăn nuôi trâu, bò vỗ béo. Gia đình ông Triệu Tòn San ở thôn Nặm Sai trồng bốn bung cỏ voi, mỗi lứa nuôi hai con, sau ba tháng xuất bán mỗi con lãi từ năm đến sáu triệu đồng. Tương tự là các hộ như Vừ A Dàng, Trang A Chạ ở thôn Cốc Nọt, cứ ba tháng một lần thu lãi hơn 10 triệu đồng.
Chủ tịch Hội Nông dân xã Công Bằng Nông Văn Tịch cho biết: "Chúng tôi mở các lớp tập huấn kỹ thuật ủ chua thức ăn, phòng bệnh trâu, bò cho hàng trăm lượt hội viên. Ðối với các thôn xa, hội phối hợp UBND xã cử cán bộ xuống tận nơi cầm tay, chỉ việc. Bà con thấy hộ khác làm, thu lãi nhiều trong thời gian ngắn thì tin tưởng, làm theo, nuôi nhốt, vỗ béo trâu, bò trở thành phong trào trong cả xã".
Số lượng nuôi vỗ béo xuất bán được đưa ra giao thương tại chợ trâu, bò Công Bằng. Chợ họp sáu phiên mỗi tháng, mỗi phiên giao dịch từ 150 đến 300 con, thu hút thương lái từ các tỉnh vùng xuôi. Bình quân mỗi con trâu, bò có giá trị từ 10 đến 15 triệu đồng. Gia đình anh Triệu Tòn Dất ở thôn Phiêng Luông, xã Công Bằng trước làm đủ nghề nhưng vẫn không thoát nghèo vì chỉ có một bung rưỡi (1.500 m2) ruộng một vụ. Ðược Hội Nông dân xã tập huấn, hướng dẫn nuôi nhốt, vỗ béo trâu, bò, đến nay gia đình anh đã thoát nghèo, có của ăn của để. Theo anh Dất, mua trâu, bò gầy về nuôi nhốt, vỗ béo bằng cỏ voi, bổ sung thức ăn tinh, từ hai đến ba tháng thì xuất bán, mỗi con lãi từ ba đến bốn triệu đồng. Tháng trước, anh vừa bán sáu con bò, lãi hơn 20 triệu đồng, một món tiền lớn mà trước đây anh chưa bao giờ nghĩ sẽ có được.
Nuôi nhốt, vỗ béo đại gia súc đã trở thành phong trào ở vùng cao Pác Nặm. Ðến nay, toàn huyện Pác Nặm đạt tổng đàn đại gia súc khoảng 18.000 con, đứng đầu cả tỉnh, số hộ chăn nuôi trâu, bò chiếm khoảng 70%, các xã trồng được hơn 100 ha cỏ voi, cỏ VA06... Huyện ban hành đề án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp theo hướng hàng hóa, tạo ra sản phẩm an toàn, có sức cạnh tranh trên thị trường, trên cơ sở đó có cơ chế hỗ trợ về vốn vay, khoa học - kỹ thuật, cụ thể hóa từng đối tượng, định mức hỗ trợ để tạo cơ hội cho người dân phát triển chăn nuôi.
Mở rộng thị trường tiêu thụ
Ðể tạo thị trường tiêu thụ, hình thành hướng sản xuất hàng hóa, Pác Nặm chủ động củng cố, hỗ trợ phát triển ba chợ trâu, bò. Chợ trâu, bò Nghiên Loan đặt ở xã đầu huyện, mỗi phiên giao dịch từ 350 đến 400 con trâu, bò. Chợ Bộc Bố đặt ở trung tâm huyện lỵ, mỗi phiên giao dịch 150 đến 200 con. Chợ Công Bằng đặt ở xã cuối huyện, mỗi phiên giao dịch 150 đến 300 con. Thương lái đến từ các tỉnh miền xuôi, Cao Bằng, Tuyên Quang… mỗi phiên thường mua từ 15 đến 17 con, đủ một xe ô-tô vận chuyển về bán cho các lò mổ chuyên nghiệp. Mỗi phiên giao dịch, các chợ bán được ít nhất là hai phần ba tổng số gia súc đưa đến. Pác Nặm trở thành điểm mua bán gia súc quy mô lớn ở khu vực phía bắc.
Trong tổng đàn 18.000 con, huyện Pác Nặm chỉ đạo dành tỷ lệ từ 20 đến 30% con khỏe mạnh để sinh sản, số còn lại chuyển sang nuôi vỗ béo quay vòng. Bình quân mỗi lứa, toàn huyện nuôi khoảng 11.000 con vỗ béo, mỗi năm nuôi ba lứa, xuất bán 33.000 con. Huyện phấn đấu mỗi năm giá trị kinh tế từ xuất bán gia súc đạt hơn 90 tỷ đồng trong khi tổng đàn giữ ổn định, vẫn tăng thêm nhờ trâu, bò sinh sản.
Phó Bí thư Huyện ủy Nguyễn Ðình Ðiệp cho biết, huyện chỉ đạo xây dựng chính sách sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp tập trung hỗ trợ mỗi thôn có ít nhất từ hai đến ba hộ trở lên nuôi quy mô hơn 10 con. Huyện sẽ hỗ trợ những hộ khá, có đất làm chuồng trại lớn, có kỹ thuật. Những hộ này sẽ là tấm gương để hộ nghèo noi theo, từ đó khắc phục tình trạng trông chờ, ỷ lại, đồng thời mở rộng quy mô chăn nuôi theo hướng hàng hóa. Ðối với hai xã lựa chọn hoàn thành xây dựng nông thôn mới trong năm 2018 là Bộc Bố và Giáo Hiệu, Huyện ủy Pác Nặm phân công ủy viên BCH Ðảng bộ huyện phụ trách từng thôn ở hai xã đôn đốc, hướng dẫn.
Có thể thấy chăn nuôi đại gia súc ở Pác Nặm đã chuyển biến tích cực, tuy nhiên một số thôn, bản ở vùng cao vẫn nuôi, nhốt gia súc dưới sàn nhà, gần nhà không bảo đảm vệ sinh môi trường. Việc kiểm soát dịch bệnh tại các chợ trâu, bò có lúc chưa chặt chẽ dẫn tới lây lan dịch bệnh. Thời gian tới, Pác Nặm chú trọng kiểm soát kỹ chất lượng con giống, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, kiểm soát an toàn dịch bệnh, bảo đảm vệ sinh môi trường gắn với chính sách hỗ trợ, bám sát quy hoạch vùng chăn nuôi phù hợp từng xã

Thứ Hai, 2 tháng 7, 2018

Xuất khẩu gạo của Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực

Xuất khẩu gạo của Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực
Trong 6 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã thu về 1.81 tỷ USD xuất khẩu gạo, tăng 42% so với cùng kỳ năm trước.
Theo số liệu thống kê mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Việt Nam đã xuất 3.56 triệu tấn gạo trong 6 tháng đầu năm, tăng 25% so với năm trước. Tính đến cuối tháng 5, Trung Quốc tiếp tục là nước nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam với giá trị nhập khẩu đạt 500 triệu USD, theo sau là Indonesia với tổng giá trị các đơn hàng đạt 596,000 tấn, tương đương 280 triệu USD.
Trong tháng 6, gạo trắng 5% tấm của Việt Nam có giá trung bình 450 USD/tấn, cao hơn so với sản phẩm cùng loại của Ấn Độ và Thái Lan (giá của 2 nước này lần lượt là 410 USD/tấn và 435 USD/tấn.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hệ thống xuất khẩu gạo của Việt Nam chứng kiến sự dịch chuyển rõ ràng, với tỉ lệ tăng trưởng của gạo chất lượng cao, chiếm gần 1/3 tổng giá trị xuất khẩu gạo trong tháng 5 và tăng 53.8% so với tháng 4.
Giá trị gạo 15% và 25% tấm cũng tăng 57.7% trong tháng 5 khi các nhà xuất khẩu gạo Việt Nam tiến hành thực hiện các đơn hàng của Indonesia và Philippines từ trước đó. Gạo Japonica và gạo trắng 5% tấm giảm 11% và 41.4% trong tháng 5. Trong cùng thời gian này, gạo nếp xuất khẩu gạo 35.9%, ở mức 38.6 triệu USD do nhu cầu của Trung Quốc giảm.
Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu của Thái Lan tuần cuối tháng 6/2018 giảm do sự cạnh tranh từ Việt Nam, giá gạo Thái Lan hiện giảm xuống mức thấp nhất tính từ tháng 12/2017, thêm vào đó đồng Baht yếu đã khiến giá trị xuất khẩu kém đi. Các thương nhân đang trông đợi Chính phủ sẽ sớm kết thúc 2 đợt bán 2 triệu tấn gạo dự trữ của Chính phủ vào ngày 29/6, đợt mở bán này sẽ gồm 1.5 triệu tấn gạo không dùng làm thực phẩm và 0.5 triệu tấn gạo phẩm chất kém. Gạo dự trữ của chính phủ Thái Lan có trên 60% là gạo trắng 5% tấm từ mùa vụ 2011/2012 đến 2012/2013 theo chương trình hỗ trợ thu mua lúa gạo của Thái Lan.

Dự thảo giá điện lần 2: Khách sạn, nhà nghỉ sẽ được mua điện giá thấp

Các cơ sở lưu trú du lịch có thể được hưởng cơ chế giá điện mới ngang bằng giá điện sản xuất, thấp hơn nhiều so với giá điện kinh doanh hiện nay..
Nếu điều chỉnh giá điện theo dự thảo sẽ giúp doanh thu toàn ngành du lịch tăng từ 480 - 960 tỷ đồng.
Theo dự thảo lần 2 quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ cấu biểu giá bán lẻ điện của Bộ Công Thương, nhóm khách hàng cơ sở lưu trú du lịch là khách sạn, biệt thự, căn hộ, nhà nghỉ du lịch sẽ được chuyển từ đối tượng tiêu dùng điện kinh doanh sang đối tượng sản xuất.
Cũng theo dự thảo này, cơ cấu giá bán lẻ điện sẽ được chia thành 4 nhóm đối tượng khách hàng. Cụ thể bao gồm, giá bán lẻ điện cho các ngành sản xuất, cơ sở lưu trú du lịch; giá bán lẻ điện cho khối hành chính sự nghiệp; giá bán lẻ điện sinh hoạt và giá bán lẻ điện cho kinh doanh.
Đáng chú ý, nhóm cơ sở lưu trú du lịch được đề xuất hưởng cơ chế giá điện mới ngang bằng giá điện sản xuất, thấp hơn nhiều so với mức áp giá điện kinh doanh hiện nay.
Cụ thể, nhóm khách hàng cơ sở lưu trú du lịch là khách sạn, biệt thự, căn hộ, nhà nghỉ du lịch sẽ được chuyển từ đối tượng tiêu dùng điện kinh doanh sang đối tượng sản xuất.
Tỷ lệ so với mức giá bán lẻ điện bình quân được điều chỉnh theo thẩm quyền thấp nhất nằm ở nhóm ngành sản xuất và cơ sở lưu trú du lịch với mức 51%, 56%, 59%, 67% giờ thấp điểm, áp dụng cho các cấp điện cao áp, trung áp và hạ áp. Tỷ lệ áp dụng cho giờ bình thường là 81%, 84%, 85% và 92%.
Đối với giờ cao điểm, tỷ lệ áp dụng so với mức giá điện bình quân được phép điều chỉnh theo thẩm quyền lần lượt là 144%; 150%, 156% và 167%.
Theo đánh giá của Bộ Công Thương, tác động tích cực của đề xuất này là sẽ giúp phát triển ngành du lịch Việt Nam. Theo báo cáo đánh giá tác động, mức giảm giá điện dành cho khách sạn vào khoảng 37%, khi đó giá phòng khách sạn của thể giảm ở mức 0,65%, làm tăng nhu cầu khách sạn vào khoảng 0,12-0,24%.
Năm 2016, doanh thu từ khách du lịch của Việt Nam là 400.000 tỷ đồng, nên nếu điều chỉnh giá điện theo dự thảo sẽ giúp doanh thu tăng thêm cho toàn ngành du lịch từ 480 - 960 tỷ đồng.
Tuy nhiên, tác động tiêu cực của đề xuất này, theo phân tích của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là sẽ làm doanh thu bán điện của EVN giảm khoảng 1.858 tỷ đồng (số liệu năm 2016) và 2.630 tỷ đồng (tương ứng sản lượng điện thương phẩm dự kiến năm 2018).
Từ đó, EVN cho rằng, cần thiết phải điều chỉnh tăng giá cho nhóm khách hàng sản xuất để bù đắp cho khoản giảm doanh thu này, cũng như làm giảm khoảng cách với giá điện cho nhóm khách hàng kinh doanh, dịch vụ.
EVN đề xuất phương án là điều chỉnh nhóm khách hàng cơ sở lưu trú du lịch sang nhóm khách hàng sản xuất và phân bổ khoản giảm doanh thu của EVN theo tỷ lệ của giờ cao điểm, giờ bình thường và giờ thấp điểm của từng cấp điện áp tương ứng và đảm bảo giá bán điện bình quna thực hiện không đổi.
Trong khi đó, cũng góp ý cho đề xuất tại dự thảo, Bộ Tài chính đồng tình với việc chuyển nhóm khách hàng du lịch từ đối tượng tiêu dùng điện cho kinh doanh sang đối tượng sản xuất.
Tuy nhiên Bộ Tài chính cho rằng, thực tế có cơ sở lưu trú du lịch (như khách sạn) cung cấp các dịch vụ khác như dịch vụ nhà hàng, khu vui chơi, giải trí, khu liên hợp thể dục thể thao, quầy hàng... Đều sử dụng điện.
Vì vậy, Bộ Tài chính đề nghị Bộ Công Thương nghiên cứu, hướng dẫn trong việc áp dụng giá bán điện cho đối tượng này, đồng thời hướng dẫn các đối tượng cơ sở lưu trú du lịch tránh phát sinh các vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Còn Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đề nghị cần đánh giá rõ và cụ thể hơn các kịch bản tác động chi phí của việc chuyển nhóm các cơ sở lưu trú du lịch sử dụng điện kinh doanh sang điện sản xuất để có lựa chọn tốt nhất, cân bằng về kinh tế.
Đơn vị này đặt câu hỏi, liệu lợi ích của việc giảm giá điện với ngành khách sạn có lớn hơn chi phí đối với ngành điện, với nền kinh tế phải gánh chịu hay không?

Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2018

Giá gạo Việt Nam vượt trội Thái Lan, Ấn Độ nhờ ưu thế ch���t lượng

Giá gạo trắng 5% tấm xuất khẩu của Việt Nam đạt 450 USD/tấn, trong khi giá gạo xuất khẩu cùng loại của Ấn Độ đạt 410 USD/tấn và của Thái Lan đạt 435 USD/tấn.
Gạo là một trong các mặt hàng tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng trong 6 tháng đầu năm 2018, ước đạt 3,57 triệu tấn và 1,81 tỷ USD, tăng 12,5% về khối lượng và 42% về giá trị so với cùng kỳ 2017.

Trên thị trường thế giới, giá gạo tại Thái Lan giảm xuống mức thấp nhất trong năm nay do nhu cầu ảm đạm và triển vọng nguồn cung dồi dào, trong khi giá gạo Ấn Độ giảm do sức mua kém từ châu Phi và Bangladesh.

Tuy nhiên, xuất khẩu gạo của Việt Nam trong tháng 6/2018 ước đạt 604.000 tấn, giá trị đạt 317 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt 3,56 triệu tấn, giá trị đạt 1,81 tỷ USD, tăng 25% về khối lượng và tăng 42% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.
Bốc xếp gạo xuất khẩu tại cảng Sài Gòn. Ảnh:TTXVN

Số liệu cập nhật trong 5 tháng đầu năm 2018 cho thấy Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam với 30% thị phần (đạt 844.000 tấn và 499,4 triệu USD), đứng thứ 2 là Indonesia với 18,7% thị phần (đạt 596.000 tấn và 280 triệu USD). Trong 5 tháng đầu năm xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 21,3% (đạt 844.000 tấn). Các thị trường có mức xuất khẩu tăng, điển hình là Indonesia 596.000 tấn, Iraq 150.000 tấn, Malaysia với 273.000 tấn (gấp 2,51 lần), và Hoa Kỳ với 26.200 tấn (gấp 2,36 lần) so với cùng kỳ năm 2017.

Trong tháng 6/2018, giá gạo xuất khẩu của các nước lớn đều giảm. Tuy nhiên, giá gạo trắng 5% tấm xuất khẩu của Việt Nam đạt 450 USD/tấn, vẫn cao hơn so với sản phẩm cùng loại của Ấn Độ và Thái Lan.

Giá gạo xuất khẩu cùng loại của Ấn Độ đạt 410 USD/tấn và của Thái Lan đạt 435 USD/tấn. Giá gạo xuất khẩu các nước xuất khẩu lớn đều giảm so với tháng trước do nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường chính như Indonesia, Philippines, châu Phi, Bangladesh đều giảm.

Lý giải về việc giá gạo Việt Nam được giá hơn Thái Lan, Ấn Độ, ông Lê Thanh Tùng, Trưởng Văn phòng đại diện phía Nam Cục Trồng trọt (Bộ NNPTNT) cho biết, cơ cấu giống lúa gạo thời gian qua đã có sự thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng các giống lúa thơm, lúa chất lượng cao, tạo động lực cho xuất khẩu khởi sắc.

Theo đó, các loại gạo chất lượng cao đang chiếm ưu thế trong cơ cấu giống, lên đến 32%, gạo thơm khoảng 25%, nếp chiếm 15%, gạo chất lượng trung bình 24%, còn lại là các loại gạo khác. Điều này cũng phù hợp với cơ cấu gạo xuất khẩu Hiệp hội Lương thực Việt Nam đưa ra với 32% sản lượng xuất khẩu là gạo chất lượng cao, 30% gạo thơm, nếp và Japonica chiếm 23%, 5% còn lại là gạo có phẩm cấp trung bình.

Hơn nữa, diện tích các giống lúa có phẩm cấp trung bình đã giảm, nếu như những năm trước, lúa IR50404 chiếm tới 40 – 50% diện tích canh tác lúa vùng ĐBSCL thì nay chỉ còn khoảng 10 – 12%.

Bốc xếp mặt hàng gạo xuất khẩu sang thị trường Philippines tại cảng Nhà Bè (TP Hồ Chí Minh). Ảnh:TTXVN.

Bên cạnh đó, ông Nguyễn Trung Kiên, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, xuất khẩu gạo có sự tăng trưởng ấn tượng là do thị trường mở rộng. Sau một thời gian trầm lắng, một số thị trường truyền thống đã có sự hồi phục trở lại như Indonesia, Philippines, Iraq và Cu ba; đồng thời xuất hiện một số thị trường mới, hướng đến phân khúc sản phẩm chất lượng cao như: Hàn Quốc.

Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất sang ưu tiên các giống lúa chất lượng cao cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy xuất khẩu. Nhiều dòng gạo thơm mới xuất hiện đã làm đa dạng hóa các sản phẩm cao cấp. Trên cơ sở đà tăng trưởng này, từ nay đến cuối năm, thị trường xuất khẩu vẫn tiếp tục ổn định; khả năng sản lượng xuất khẩu sẽ đạt trên 6 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD.

Còn theo TS.Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, quá trình chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu giống lúa theo hướng ưu tiên giống chất lượng cao đã mang lại kết quả khả quan trong xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2018. Thị trường xuất khẩu lúa gạo những tháng đầu năm 2018 khá thuận lợi do nhu cầu nhập khẩu gạo ở một số nước tăng cao, đặc biệt là Trung Quốc và các nước Đông Nam Á.

Theo thống kê, mỗi năm Trung Quốc tiêu thụ tới 140 triệu tấn lúa gạo, đây là cơ hội để chúng ta đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường này. Đặc biệt, sản phẩm gạo nếp của Việt Nam gần như độc quyền tại thị trường Trung Quốc. Tiêu thụ gạo nếp của Trung Quốc tăng lên trong vài năm trở lại đây, năm 2016, xuất khẩu vào Trung Quốc đạt 1,3 triệu tấn, năm 2017 đạt 2 triệu tấn.

Bên cạnh đó, Việt Nam có một vụ lúa đông xuân 2017- 2018 thắng lợi, cả về sản lượng và cơ cấu giống, tạo nguồn nguyên liệu dồi dào phục vụ xuất khẩu. Chỉ tính riêng tại khu vực Nam Bộ, tổng diện tích xuống giống toàn vùng vụ đông xuân 2017-2018 là hơn 1,6 triệu ha, tăng 58.256ha so vụ trước, năng suất ước đạt 66,59 tạ/ha, tăng 4,54 tạ/ha, sản lượng ước đạt hơn 11,1 triệu tấn, tăng hơn một triệu tấn so với vụ đông xuân 2016–2017.
Nguồn Giá gạo hôm nay
Để giữ vững thành quả tăng trưởng của ngành, Cục Trồng trọt khuyến cáo các địa phương tiếp tục tăng diện tích các giống lúa thơm, lúa chất lượng cao, đang được coi là lợi thế xuất khẩu của Việt Nam; giữ ổn định tỷ lệ giống lúa nếp ở mức 10%, không nên mở rộng hơn vì thị trường xuất khẩu hẹp và đã ổn định (chủ yếu phục vụ thị trường Trung Quốc); có thể tăng diện tích giống lúa Japonica từ 4% hiện nay lên 6 – 7% vì triển vọng thị trường đang tốt.

Giá dầu Brent (giao tháng 8): 79,90 USD/thùng – tăng 45 cent


Giá xăng dầu hôm nay 2/7/2018, tính đến đầu giờ sáng, đang giao dịch ở ngưỡng:

Giá dầu thô sàn Nymex (giao tháng 8): 74,75 USD/thùng – tăng 60 cent

Giá dầu thô sàn Tokyo (giao tháng 8): 51.460 JPY/thùng – gần như chưa thay đổi

Giá xăng thành phẩm sàn Nymex: 214,02 USD/gallon – giảm 1 USD.

Giá xăng dầu hôm nay 2/7 hướng tới tuần mới với một tình trạng đầy lạc quan và thậm chí có thể đi lên mạnh mẽ hơn trong những phiên tới đây.
Giá xăng dầu tăng trưởng.


Kênh truyền hình CNBC dẫn phát biểu của chuyên gia Hootan Yazhari thuộc Ngân hàng America Merrill Lynch cho biết: “Chúng tôi cho rằng giá dầu sẽ lên tới 90 USD/thùng vào cuối quý 2 năm sau”.

Việc giá dầu tăng liên tục cho thấy nỗ lực cắt giảm sản lượng mà OPEC và Nga thực hiện từ đầu năm ngoái đến nay để hỗ trợ giá dầu đã phát huy tác dụng mạnh. Tuần trước, OPEC và Nga nhất trí tăng sản lượng trở lại để hạn chế đà tăng của giá dầu, nhưng giá “vàng đen” vẫn tiếp tục leo dốc.

Trong một động thái khác, cuối tuần qua OPEC và Nga đã đạt được sự đồng thuận trong việc tăng sản lượng khai thác dầu. Giới phân tích cho rằng OPEC sẽ nâng sản lượng từ 600.000 - 800.000 thùng/ngày.

Giá vàng hôm nay 2/7 không nhiều thay đổi



Giá vàng hôm nay 2/7, tính đến đầu giờ sáng đang giao dịch quanh ngưỡng 1.253 USD/ounce - gần như không thay đổi so với ngày hôm qua.

Giá vàng vẫn chưa tăng trở lại và gần như vẫn đứng yên chờ đợi những tín hiệu trên trường để quyết định xu hướng giá. Nhưng theo nhiều chuyên gia, giá vàng không thể tăng và sẽ tụt sâu trong tuần mới.
Giá vàng sẽ giảm?


Trong tuần, giá vàng hướng đến tháng giảm giá mạnh nhất trong 19 tháng. Kim loại quý này đang hướng đến tuần giảm giá thứ ba liên tiếp, giảm 1,4% từ đầu tuần đến nay.

Tuy nhiên, đà giảm của vàng đã chững lại, thay vào đó là mức tăng nhẹ khiêm tốn trong phiên cuối tuần khi đồng USD giảm giá khá mạnh với mức giảm 0,72%.

Trên thực tế, hàng loạt các tín hiệu cho thấy đồng USD vẫn nằm trong xu hướng tăng giá với khả năng Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất trong thời gian tới và các nền kinh tế tại châu Âu, Nhật và Trung Quốc vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Giá heo hơi hôm nay 2/7 không biến động



Sau hàng loạt chuỗi thời gian biến động tăng giảm không đồng đều hiện giá heo hơi 2/7 không có nhiều thay đổi giá heo hơi đnag ở mức cao nhất miền bắc và các miền còn lại nằm dưới mức 50.000.

Giá heo hơi hôm nay 2/7 miền nam


Miền nam với giá heo đnag cán môc cao nhất là 47.000 mời các bạn cập nhật chi tiết hôm nay giá heo hơi nhiều thay đổi.

Một số địa phương như: An Giang, Hậu Giang, Long An, Cà Mau,... hiện đang dao động quanh 47.000 đồng/kg. Vĩnh Long, Đồng Nai, Bến Tre,... có mức giá thấp hơn một chút khoảng 46.000 đồng/kg.

Giá heo hơi hôm nay 2/7 miên trung

Giá heo hơi miền trung cũng không có quá nhiều thay đổi giá heo hiện thời cũng không trên 50.000 cập nhật chi tiết hôm nay.


Nhìn chung các tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị,... vẫn là những địa phương có mức giá tốt nhất.

Lui xuống phía Nam, các địa phương có mức giá giảm dần và dao động từ 44.000 đồng/kg đến 48.000 đồng/kg. Đắk Lắk giá heo cũng chỉ dao động từ 45.000 đồng/kg đến 46.000 đồng/kg.

Giá heo hơi 2/7 miền bắc


Có thể nói miền bắc đnag là miền có giá heo hơi tăng mạnh nhất, với nhiều thông tin chi tiết mời các bạn đón đọc.

Các tỉnh địa phương như Hưng Yên, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hà Nội,... đang có mức giá tương đối ổn, có thời điểm lên đến 51.000 đồng/kg.

Một số nơi khác như Yên Bái, Lào Cai, Nam Định,... giá heo thấp hơn và dao động quanh mức 45.000 đồng/kg đến 47.000 đồng/kg.